động quân sự trong thời bình, thời chiến; tổ chức nắm tình hình địch, tình hình ta, nghiên cứu đề xuất những chủ trương, giải pháp, điều hành các kế hoạch tác chiến, tổ chức hiệp đồng, bảo đảm, tổ chức bố trí lực lượng chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu. 3.2. Tổng cục chính trị và cơ quan chính trị các cấp Quân đội thời Lý gồm hai bộ phận: cấm quân và quân địa phương. Cấm quân: là quân tuyển chọn từ những thanh niên khỏe mạnh trong cả nước, có nhiệm vụ bảo vệ vua và kinh thành. đáp án đúng: B. Quân đội của nhà Lý được phiên chế thành những bộ phận là cấm quân, quân địa phương. Quân đội của các nhà nước phong kiến ở Việt Nam từ thế kỉ XI đến XV sớm được tổ chức quy củ, gồm hai bộ phận: cấm quân- quân bảo vệ nhà vua và kinh thành Khu vực quân sự của Quân đội có nhiều nơi khác nhau như: Kho tàng, nhà xưởng, đất đai có gắn biển quản lý và có người bảo vệ; các khu vực huấn luyện, diễn tập quân sự hoặc các khu vực Quân đội trưng dụng tạm thời để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh Ngày 11/10, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã gặp mặt thân mật 80 đại biểu ưu tú đại diện cho 450 đại biểu về dự Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Quân đội lần thứ X nhiệm kỳ 2022-2027. Báo Nhân Dân xin đăng toàn văn bài Gl0O7. Bài 10. Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi Lu Lu 3 tháng 12 2016 lúc 2124 luật pháp, quân đội thời Lý, Trần. nêu tình hình pháp luật và quân đội thời lý,hãy cho biết sự cần thiết và tác dụng của pháp luậtgiúp nha, hic Xem chi tiết Em có hiểu biết gì về luật pháp,quân đội và chính sách đối nội,đối ngoại thời Lý? Xem chi tiết -Nêu những nét chính về pháp luật, quân đội thời Lý. Cho biết sự cần thiết và tác dụng của pháp luật- Cho biết em hiểu thế nào về chính sách ngụ binh ư nông của nhà Lý- Nêu chủ trương và việc làm của nhà Lý đối với các tủ trưởng dân tộc miền núi và nước láng giềng. Tại sao nhà Lý lại đề ra chủ trương đó?Giup mk với ! MK ĐANG CẦN GẤP ?Đọc tiếp Xem chi tiết đạt lê 4 tháng 11 2021 lúc 816 Nhà Lý ban hành bộ luật đầu tiên tên gọi là gì, vào thời gian nào? Quân đội nhà Lý được tổ chức như thế nào? Xem chi tiết Nêu nhận xét chính về pháp luật và quân đội thời biết sự cần thiết và tác dụng của pháp biết em hiểu thế nào về chính sách ""ngụ binh ư nông" của nhà chủ trương và việc làm của nhà Lý đối với các tù trưởng dân tộc miền núi và các nước láng giềng. Tại sao nhà Lý lại đề ra chủ trương đó..GIÚP MÌNH VỚI MAI MÌNH HỌC RÙI. Xem chi tiết So sánh quân đội nhà Trần với nhà Lý? Xem chi tiết Câu hỏi 5 SGK Trang 38 15 tháng 5 2021 lúc 2157 Quân đội thời Lý được tổ chức như thế nào? Em có nhận xét gì về tổ chức quân đội của nhà Lý? Xem chi tiết Nêu nhận xét về luật pháp thời Lý Xem chi tiết Quân đội thời Lý có nhiệm vụ gì và thực hiện theo chính sách nào? Chích sách đối ngoại của nhà Lý có điểm gì đặc biệt ? Xem chi tiết Năm 1042, nhà Lý ban hành bộ Hình thư, bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta nhưng hiện nay không còn nữa. Theo sử cũ, luật pháp thời Lý quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà vua và cung điện, xem trọng việc bảo vệ của công và tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc mổ trâu bò, bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Những người phạm tội bị xử phạt rất nghiêm khắc. Quân đội thời Lý gồm hai bộ phận cấm quân và quân địa phương. Nhà Lý thi hành chính sách "ngụ binh ư nông" gửi binh ở nhà nông, cho quân sĩ luân phiên về cày ruộng và thanh niên đăng kí tên vào sổ nhưng vẫn ở nhà sản xuất, khi cần triều đình sẽ điều động. Quân đội nhà Lý có quân bộ và quân thuỷ, kỉ luật nghiêm minh, được huấn luyện chu đáo ; vũ khí trang bị cho quân đội gồm giáo mác, đao kiếm, cung nỏ, máy bắn đá... Nhà Lý còn gả các công chúa và ban chức tước cho các tù trường dân tộc miền núi. Nếu người nào có ý định tách khỏi Đại Việt, nhà Lý kiên quyết trấn áp. Đối với nhà Tống, Lý Công uẩn giữ quan hệ bình thường, tạo điều kiện cho nhân dân ở hai bên biên giới có thể qua lại buôn bán. Để ổn định biên giới phía nam, nhà Lý đã dẹp tan cuộc tấn công của Cham-pa do nhà Tống xúi giục. Sau đó, quan hệ Đại Việt - Cham-pa trở lại bình thường. Like 1 Báo cáo sai phạm Đặc điểm tổ chức quân đội thời Lê Sơ - Thực hiện chính sách Ngụ binh ư nông. - Quân đội gồm 2 bộ phận Quân triều đình và Quân địa phương bộ binh,thủy binh,tượng và nghị binh. - Vũ khí đao,kiếm,cung tên,hỏa đồng,hỏa pháo. Kiên quyết bảo vệ vùng biên giới Tổ quốc. Đặc điểm tổ chức quân đội thời Trần - Quân đội tuyển chọn theo chính sách "ngụ binh ư nông", "quân lính cốt tinh nhuệ,không cốt đông". Học tập binh pháp và luyện tập võ nghệ. - Bố trí tướng giỏi đóng quân ở các vùng hiểm yếu. Nhất là vùng biên giới phía Bắc. Giống nhau - Đều tuyển chọn theo chính sách "ngụ binh ư nông". - Đề cao giữ gìn và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Khác nhau - Thời Lê Sơ + Bộ máy tố chức quân đội gồm 2 bộ phận.Có sự sắp đặt + Vũ khí đa dạng,sắt bén. - Thời Trần + Bộ máy tổ chức quân đội không có sự sắp đặt. + Vũ khí thô sơ cuốc,cày,..... Thời Lý, khi đất nước hòa bình thì chỉ có cấm quân thường trực bảo vệ kinh đô Thăng Long, các quân khác chia phiên luyện tập, canh phòng, một bộ phận trở về trong dân sản xuất, cày cấy. Tại hội thảo "30 năm đổi mới quân sự quốc phòng, thành tựu và kinh nghiệm" tổ chức ngày 16/12, PGS Đinh Ngọc Hải, Viện trưởng Sử học, đã có bài tham luận đề cập đến chính sách nuôi quân thời phong kiến thu hút sự chú ý của đại biểu. "Ngụ binh ư nông" là chính sách quân sự nảy sinh và phát triển ở nước nông nghiệp luôn phải đương đầu với kẻ thù xâm lược hùng mạnh như Việt Nam. Ngụ binh ư nông được hiểu là gửi binh lính ở nông thôn khi quốc gia vô sự, lúc có giặc thì toàn dân là lính. Đây là chính sách kết hợp xây dựng quốc phòng với kinh tế, các triều đại Lý, Trần, Lê đều áp dụng hiệu quả. Ngụ binh ư nông gửi quân sĩ làm nông nghiệp theo lối thay phiên nhau. Khi dân số đất nước ít, trai tráng từ 18 tuổi trở lên, khỏe mạnh đều phải làm nghĩa vụ quân sự. Đinh tráng được huấn luyện, có kiến thức tối thiểu về võ nghệ. Họ đều là quân dự bị, cần điều động là có ngay, ai nấy biết rõ quân ngũ của mình. Thời Âu Lạc, An Dương Vương sai đắp thành Cổ Loa, tướng Cao Lỗ huấn luyện quân sĩ, vừa huy động quân dân đắp thành, đồng thời đắp đê phòng lũ. Trong nghìn năm chống Bắc thuộc, các anh hùng dựng cờ khởi nghĩa thường tập hợp anh em, họ hàng trong làng xã trước khi khởi nghĩa lan ra cả nước. Từ thế kỷ X, nước nhà giành độc lập lâu dài, quân đội các triều đại phong kiến được xây dựng quy củ, phép tắc, điển chương, cần có chính sách rõ ràng. Chính sách ngụ binh ư nông ra đời và dần định hình rõ nét. Sử cũ chép rằng, năm 974 Đinh Tiên Hoàng tổ chức quân thập đạo, trong đó quân lính làm ruộng là chính và khi cần là binh. Đội quân ấy chống Tống, phạt Chiêm thắng lợi. Sau năm 982, đất nước không còn chiến tranh thì các vua nhà Tiền Lê, từ Lê Hoàn tới Lê Long Đĩnh đều huy động quân sĩ cùng dân đóng thuyền, đào sông, đắp đường. Có năm, triều đình huy động lính của Châu Hoan Nghệ Tĩnh đi sửa sang đường đất từ Nghệ Tĩnh đến giáp Đèo Ngang. Thời Lý, vua Lý Thái Tổ đã phát triển quân đội ngày càng quy củ và mở rộng hơn, chính sách ngụ binh ư nông vì thế cũng đi vào quy chế. Quân đội thời Lý gồm quân triều đình cấm quân có khoảng người, là lực lượng thường trực bảo vệ kinh thành Thăng Long. Quân địa phương gồm quân đội đóng ở các châu, lộ do quan trấn thủ chỉ huy, không có số nhất định, gọi là sương quân cùng quân của các vương hầu, quý tộc và quân của tù trưởng miền núi, gọi là thổ binh. Khi chiến tranh với Chiêm Thành, triều đình huy động được trong kháng chiến chống Tống huy động được 60-100 nghìn trong số dân ước tính 3-4 triệu. Nhà Lý thi hành "Luật Nghĩa vụ quân sự", dân đinh đến 18 tuổi phải đăng ký vào sổ bìa vàng, gọi là hoàng sách, nên hạng đinh này được gọi là hoàng nam. Đinh trên 20 tuổi gọi là đại hoàng nam. Cấm quân có số nhất định, tuyển các đại hoàng nam khỏe mạnh và giỏi võ bổ sung vào. Số còn lại ở nhà sản xuất, tham gia dân đinh, sẵn sàng vào quân đội khi có lệnh triều đình nên không có con số nhất định. Đối với quân thường trực, nhà nước quy định chế độ "chia phiên". Khi đất nước hòa bình thì chỉ có cấm quân là phải trực thường xuyên để bảo vệ kinh đô, còn các quân khác thì chia phiên, một bộ phận trực tại ngũ, luyện tập và canh phòng, một bộ phận trở về sản xuất. Khi đất nước có giặc, tất cả trở lại quân ngũ để chiến đấu. Sách An Nam chí lược bộ sử triều Trần chép "Quân không có số nhất định. Người dân nào đến tuổi cũng phải đăng lính, nhưng hàng tháng họ vẫn được thay nhau về làm ruộng". Còn sách Lĩnh ngoại đại đáp viết đầu thế kỷ XII, thời Lý chép cụ thể hơn "Binh lính một tháng một lần thay nhau nghỉ, để cày cấy tự cấp. Hàng năm vào ngày mồng bảy tháng giêng, mỗi người lính được phát 300 đồng tiền, một tấm lụa, mười bó lúa". "Lúc chinh phạt thì cất quân giao cho các tướng, Nếu quân không đủ thì lấy dân binh mà dùng. Việc xong lại trở về cày ruộng", sách Đại việt sử ký của Ngô Thì Sĩ chép. Chính sách ngụ binh ư nông thời Lý giúp triều đình cân đối giữa quân thường trực và quân dự bị. Bình thường chỉ có 30-50 nghìn quân, một bộ phận luân phiên về sản xuất, nhưng khi có chiến tranh thì triều đình huy động được hơn quân. Chính sách thời Lý được nhà Trần, nhà Lê vận dụng. Dưới triều Trần, thời bình thì quân cấm vệ và quân các lộ không đầy chỉ trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông mới huy động đến chưa kể quân đội riêng của các vương hầu. Nhà sử học Phan Huy Chú đã có nhận xét xác đáng "Thời Trần, phục binh ở nơi thuận tiện, lúc vô sự thì cho về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi tên ra hết" cho nên "binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù. Vậy nên thời Trần ai cũng là binh nên mới phá được giặc giữ, làm cho thế nước được mạnh". "Chiến công dẹp quân Chiêm, phá tan quân Tống thời Lý, cái oai hùng ba lần đánh bại quân Nguyên thời Trần cũng đủ cho biết binh lực hai đời cường thịnh thế nào". Trong kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần hai, vua Trần triệu tập các bô lão về kinh thành Thăng Long dự Hội nghị Diên Hồng. Vua hỏi ý kiến nên "Hòa" hay "Đánh", chỉ nghe đồng thanh một lời hô "Đánh". Việc triệu tập hội nghị cho thấy trước nạn ngoại xâm, triều đình biết tìm sức mạnh nhân dân. Bộ lão là đại biểu đầy uy tín của toàn dân đem về hội nghị tiếng nói quyết chiến, sự ủng hộ toàn dân đối với chủ trương của triều đình. Từ đó, bô lão cũng đem chủ trương của triều đình truyền đạt về làng xã, động viên toàn dân đánh giặc. Ba lần chống Nguyên - Mông là ba lần toàn dân là lính. Nhiều làng xã tự tổ chức bố phòng như một cứ điểm, giặc không sao vào được. Nắm tình hình địch, chuẩn bị trận địa, nghi binh... quân triều đình đều phải dựa hết vào dân. Trong trận quyết chiến Bạch Đằng 1288, bà hàng nước ở bến đò báo cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tình hình thủy triều lên xuống, người dân nghi binh lừa giặc, phá cầu ngăn toán quân bộ phối hợp quân thủy của địch, cùng quân triều đình chuẩn bị trận địa cọc ngầm, bè mảng hỏa công... Sau chiến thắng, vua Trần sắc phong cho làng Yên Giang và một số làng khác có công lớn là "nghĩa dân" và trọng thưởng nhiều dân thường có công khác. Thời Lê, ngoài việc tiếp tục gửi binh nơi đồng ruộng, quân đội còn trực tiếp làm ruộng. Số quân thường trực khi này có khoảng Vua Lê chia thành 5 phiên, cứ lần lượt thay nhau một phiên "lưu ban" nay gọi là thường trực, còn 4 phiên về làm ruộng. Số quân thường trực thực chất chỉ có Năm 1466, số quân chia làm 2 ban, nửa về làm ruộng, nửa tại ngũ. Cuối thế kỷ XV, lính coi ngục và lính nấu bếp cũng được luân phiên về làm ruộng. Quân thường trực thời vua Lê Thánh Tông có khoảng trong hơn suất đinh. Nhưng khi cần thì huy động được 250-300 nghìn một cách dễ dàng. "Ngụ binh ư nông" giúp các nhà nước phong kiến Việt Nam duy trì lực lượng quân đội cần thiết, đồng thời lại có quân dự bị đông đảo tại làng xã, sẵn sàng huy động khi nước có giặc. Qua đó, giảm thiểu tối đa gánh nặng cho triều đình và nhân dân trong việc nuôi quân và vẫn sản xuất nông nghiệp, đảm bảo lao động ở nông thôn không bị thiếu. PGS Đinh Quang HảiViện trưởng Sử học >>Toàn cảnh lịch sử Việt Nam qua video 8 phút Xử Nữ * Tổ chức- Quân đội thời Lý gồm hai bộ phận cấm quân và quân địa Thi hành chính sách “ngụ binh ư nông” gửi binh ở nhà nông cho quân sĩ luân phiên về cày ruộng và thanh niên đăng kí tên vào sổ nhưng vẫn ở nhà sản xuất, khi cần triều đình sẽ điều Quân đội nhà Lý có quân bộ và quân thủy, kỉ luật nghiêm minh và được huấn luyện chu Vũ khí trang bị cho quân đội gồm giáo mác, đao kiếm, cung nỏ, máy bắn đá,...* Nhận xét- Quân đội nhà Lý được tổ chức quy củ, chặt chẽ và khá hùng Chính sách “ngụ binh ư nông” là một chính sách sáng tạo và phù hợp với hoàn cảnh của đất nước. Trả lời hay 2 Trả lời 17/09/21 Song Tử - Quân đội nhà Lý được chia làm 2 bộ phận cấm quân và quân địa phương.+ Cấm quân là quân đội được tuyển chọn kĩ càng về lí lịch và sức khỏe, có nhiệm vụ bảo vệ nhà vua và kinh thành.+ Quân địa phương gọi là lộ quân, sương quân có nhiệm vụ canh phòng các lộ, phủ, áp dụng chính sách "ngụ binh ư nông".- Quân đội thời Lý bao gồm các binh chủng, thủy binh, kị binh và tượng binh, kỉ luật rất nghiêm minh, được rèn luyện chu Vũ khí có giáo mác, dao kiếm, cung nỏ, máy bắn đá …→ Quân đội nhà Lý được tổ chức khá chu đáo, quy củ và hùng mạnh. Trả lời hay 1 Trả lời 17/09/21 Người Dơi - Tổ chức thành hai bộ phận cấm quân và quân địa phương- Nhận xét Quân đội thời Lý bao gồm các binh chủng, thủy binh, kị binh và tượng binh, kỉ luật rất nghiệm minh, được rèn luyện chu đáo. Vũ khí có giáo mác, dao kiếm, cung nỏ, máy bắn đá…=> Quân đội nhà Lý được tổ chức khá chu đáo, quy củ và hùng mạnh. 0 Trả lời 17/09/21

quân đội thời lý